Tổng quát
Jukumi là một thể thức đối kháng được phát triển bởi Hyakusenkan, với mục tiêu kết hợp hiệu quả giữa các kỹ thuật quật ngã, khống chế và khóa siết của Karate trong môi trường thi đấu giàu tính giáo dục, thực tế và an toàn. Khác với những môn vật hiện đại thiên về thi đấu thể thao, Jukumi hướng tới sự cân bằng giữa kỹ năng đối kháng và tinh thần võ đạo truyền thống. Thể thức này cho phép sử dụng các kỹ thuật từ tư thế đứng (tachi-waza) đến tư thế nằm (ne-waza), tạo nên tính liên hoàn và chiều sâu kỹ thuật, đồng thời vẫn giữ được yếu tố kiểm soát và tôn trọng lẫn nhau giữa các võ sinh. Jukumi không phải là một môn võ mới, mà là một phương pháp huấn luyện và thi đấu được thiết kế để hỗ trợ người tập Karate ứng dụng, grappling, và tự vệ tổng hợp. Thể thức này giữ vai trò là cầu nối giữa kỹ thuật và tinh thần, giữa truyền thống và hiện đại, giữa đối kháng và giáo dục nhân cách.
Viết tắt trong tài liệu
VĐV: vận động viên.
Nage: ném quật.
Katame: khoá, cố định, siết, đè.
TTC: trọng tài chính.
KS: kansa - trọng tài giám sát
HLV: huấn luyện viên.
HĐTT: hội đồng trọng tài
HH: hiệp hội
Tiêu chuẩn quyết định kết quả
Kết quả trận đấu được quyết định khi:
- Một VĐV kết thúc với một điểm Ippon hoặc 3 điểm Yuko
- Nếu cả hai không có điểm, điểm sẽ được quyết định theo các tiêu chí lần lượt sau: điểm Senshu, bị phạt nhiều hơn, cân nặng thấp hơn, bốc thăm.
- Một VĐV do phải nhận HANSOKU, SHIKKAKU, hay KIKEN.
Sàn thi đấu
Thảm đấu hình vuông, loại đã được đại diện HH phê duyệt, chiều dài mỗi cạnh là 6m (đo từ mép ngoài của vạch) và cộng thêm 1m về các phía, đó là khu vực an toàn, độ dày của thảm sẽ là 3cm. Như vậy sẽ có một khu vực an toàn rõ ràng là hai (2) mét mỗi bên. Nơi có khu vực thi đấu sàn nâng cao, khu vực an toàn phải thêm 1m mỗi cạnh.
- Hai tấm thảm sẽ được lật ngược với mặt đỏ bật lên và có khoảng cách một (1) mét từ trung tâm thảm để tạo thành một ranh giới giữa các VĐV. Khi bắt đầu hoặc tiếp tục trận đấu, 2 VĐV sẽ đứng sát vách của thảm quy định vị trí và đối diện nhau.
- Trọng tài chính sẽ đứng giữa hai vị trí thảm VĐV, đối mặt với VĐV ở khoảng cách hai (2) mét tính từ khu vực an toàn.
- KS ngồi ở 1 bàn nhỏ ngay bên ngoài khu vực an toàn, ở phía sau bên trái hoặc bên phải của TTC. Trọng tài này sẽ được trang bị 1 cờ đỏ hoặc biển hiệu và còi.
- Trọng tài giám sát điểm ngồi ở bàn tính điểm chính thức (bàn thư ký) và ở giữa Trọng tài ghi điểm và Trọng tài bấm giờ.
- HLV sẽ ngồi ngoài khu vực an toàn, ở phía tương ứng của họ tại mép của thảm đấu và đối diện với bàn thư ký. Trong trường hợp khu vực thi đấu sàn nâng cao, các huấn luyện viên sẽ ngồi bên ngoài sàn nâng cao.
- Đường viền 1m bao bọc quanh thảm phải là màu khác so với phần còn lại của thảm.
Trạng thái
Tachi Waza: là trạng thái đứng, áp dụng khi:
- Cả hai VĐV đều đứng vững trên ít nhất một bàn chân hoặc đầu gối.
Ne Waza: là trạng thái nằm, áp dụng khi:
- Một hoặc cả 2 VĐV có người không đứng vững trên ít nhất một bàn chân hoặc đầu gối.
- Có phần tiếp đất ngoài bàn chân hoặc đầu gối (tay, lưng, đùi, mông,…)
- Có một hoặc hai đầu gối chạm sàn từ 3 giây trở lên.
Ghi điểm
Các loại điểm ghi được tính như sau:
- IPPON: điểm lớn.
- YUKO: điểm nhỏ
- SHENSU: được đưa ra khi điểm đầu tiên được đưa ra trong trận đấu là Yuko.
IPPON được dành cho những kỹ thuật sau:
- Khiến đối phương bị vật, ném,... hoàn toàn lưng xuống sàn, không chống đỡ. Thực hiện với tốc độ, lực và điểm rơi kiểm soát rõ ràng. VĐV ra đòn phải chủ động kiểm soát trọng tâm và điểm rơi của đối phương, đảm bảo các vùng nguy hiểm (đầu, cổ, xương sống, các khớp ngược) không va chạm trực tiếp xuống sàn.
- Khiến đối phương bị vật, ném,... xuống sàn, không chống đỡ. Thực hiện với tốc độ, lực chưa đủ và kiểm soát không rõ ràng. Sau khi quật, giữ được thế kiểm soát ít nhất 3 giây.
- Tì, đè,… nhằm giữ chặt vai hoặc lưng của đối phương dưới sàn trong vòng 20 giây.
- Khoá, siết,... khiến đối phương tap 3 lần (trừ cổ tay, cổ chân) hoặc đánh giá khiến đối phương không thể thoát ít nhất 5 giây.
YUKO được dành cho những kỹ thuật sau:
- Một trong hai VĐV ở trạng thái nằm trong vòng 5 giây nhưng không có hành động thực hiện kỹ thuật tác động lên đối phương ở trên thì Yuko sẽ được ghi cho VĐV đang ở thế cao hơn.
- Đối phương có chống đỡ và VĐV đã dùng sức mạnh của bản thân áp đảo nhằm thực hiện kỹ thuật.
- Sau khi quật nhưng không giữ thế kiểm soát ít nhất 3 giây.
- Tì, đè,… chỉ giữ chặt vai, lưng đối phương trong vòng 10 – 19 giây.
- Nâng và giữ đối phương trong tư thế “bị động” trong thời gian 3 giây trở lên, bao gồm cả khi đối phương chủ động vào tư thế "bị động".
- Khoá, siết,... nhưng đối phương thoát trên 3 giây và dưới 5 giây.
- Dùng chân (tính từ mắt cá lên tới mông) để khoá, tì, đè… nhằm kiểm soát phần thân (tính từ cổ trở xuống hông) trong vòng 5 giây.
- Các kỹ thuật khoá, vặn hoặc tác động đến cổ tay, cổ chân giữ trong vòng 5 giây.
Hướng dẫn bổ sung
Điểm va chạm hợp lệ bao gồm: mông, lưng, vai.
Một kỹ thuật ăn điểm được thực hiện vào đúng lúc có hiệu lệnh kết thúc trận đấu thì được coi là có giá trị. Một kỹ thuật cho dù có hiệu quả mà được thực hiện sau khi có lệnh tạm dừng hoặc chấm dứt trận đấu sẽ không được tính điểm và người thực hiện có thể còn bị phạt.
Nếu sau khi ném, người thực hiện vẫn giữ được tư thế thăng bằng hoặc duy trì sự kiểm soát đối thủ (không bị cuốn theo đà rơi một cách mất kiểm soát) thì mới được công nhận điểm tối đa.
Kỹ thuật kiểm soát sau khi ném được tính điểm khi VĐV duy trì được trạng thái kiểm soát trong tối thiểu 3 giây. Trạng thái này được xác nhận khi: VĐV tấn công đè được ít nhất một vai và hông của đối thủ xuống thảm. VĐV tấn công không để đối thủ xoay trở hoặc thiết lập lại thế thủ bằng chân. Trọng tài chính sẽ đếm nhịp nhẩm trong đầu. Nếu đối thủ thoát ra ở giây thứ 2, ghi điểm Yuko.
Không một kỹ thuật nào cho dù có chuẩn về mặt kỹ thuật sẽ được tính điểm nếu như cả 2 đấu thủ ở ngoài thảm đấu. Tuy nhiên, nếu như một trong hai VĐV ra đòn chính xác mà vẫn còn ở trong thảm đấu và trước khi TTC hô “Yame” thì đòn đó sẽ được tính điểm.
Thời điểm trước khi TTC hô “YAME” nếu VĐV thực hiện hai đòn ghi điểm thì điểm cao hơn sẽ được ghi nhận.
Không có trường hợp cả 2 VĐV cùng ghi điểm, nếu cả 2 cùng ghi điểm hợp lệ ở một thời điểm đồng nhất thì sẽ không có điểm và trận đấu sẽ tiếp tục.
Các kỹ thuật khoá, vặn hoặc tác động đến cổ tay, cổ chân không được tính Ippon nếu đối phương tap.
Nếu VĐV đưa tay ra ngoài sàn để tap thì điểm được ghi sẽ vẫn hợp lệ.
Nếu cả 2 VĐV không thực hiện kỹ thuật ghi điểm ở tư thế nằm trong vòng 20 giây sẽ được tách ra và quay về tư thế đứng.
Tư thế "bị động" là khi đối phương 2 chân rời khỏi mặt sàn và không thể tấn công hay phòng thủ.
Các hành vi bị cấm
Loại 1:
- Húc đầu.
- Lợi dụng phần đai của bản thân hoặc đối phương trong chiến đấu để đạt lợi thế.
- Kéo tóc.
- Tấn công đối thủ bằng tay, chân (đấm, đá, dẫm, đạp, chỏ, gối, chọc, giật tóc, móc, xỉa, tát, đâm, thọc, ấn, áp, điểm,...) dưới bất kỳ hình thức nào.
- Giữ Gi đối thủ quá 5 giây trong tư thế đứng mà không thực hiện đòn tấn công.
- Cả 2 không chủ động tấn công trong vòng 10 giây trong tư thế đứng.
- Cắn vào Gi của đối thủ.
- Các kỹ thuật có gây tác động trực tiếp đến cổ chân, cổ tay, đầu gối (dưới 13 tuổi).
- Sử dụng kỹ thuật siết gây ngạt, có khả năng để lại chấn thương (dưới 13 tuổi).
- Trì hoãn trận đấu.
- Các kỹ thuật tác động vào cổ tay, cổ chân không sử dụng hai tay
- Các kỹ thuật tác động vào cổ tay, cổ chân khiến đối phương đau đớn
- Cố tình xô đẩy, khiến đối phương ra khỏi sàn.
- Cố tình hoặc vô tình sử dụng kỹ thuật tác động vào khớp một cách đột ngột (bị đánh giá có tiềm năng gây nguy hiểm).
- Khoá khớp, tấn công khớp trong tư thế lòng bàn chân chạm sàn.
- Không tuân thủ hướng dẫn của trọng tài.
- Không thực hiện Rei khi trao điểm, trao lỗi, bắt đầu, kết thúc, chào trọng tài.
- Nâng đối thủ lên cao và đập xuống sàn hoặc các kỹ thuật tương tự, được nhận định nhằm khiến đối phương chịu sát thương từ lực tác động đột ngột.
- Sử dụng trọng lượng cơ thể để tác động khi đối phương đang nằm sàn một cách đột ngột hoặc các kỹ thuật tương tự (bị đánh giá có tiềm năng gây nguy hiểm). Điều này cũng bao gồm việc ngã đè thẳng lên người đối phương bằng các bộ phận từ vị trí ngang vai đến ngang mông.
- Tấn công vào các vị trí có lỗ, hốc trên cơ thể bằng bất kỳ hình thức nào (hậu môn, miệng, tai, mũi, mắt.
- Không kiểm soát điểm va chạm ở các phần đỉnh đầu, sau đầu, gáy, cổ, cổ họng, yết hầu, hạ bộ, ót, xương cụt, xương sống bằng bất kỳ kỹ thuật nào.
- Các kỹ thuật có thể gây tác động trực tiếp đến xương cổ, xương sống, xương ngón tay, xương ngón chân.
- Cố tình siết mạnh nhằm khiến đối phương mất ý thức do ngạt hoặc bị đánh giá có khả năng gây chấn thương khi thực hiện các đòn khoá siết.
- Cố ý sử dụng một hay nhiều ngón tay, ngón chân vào bất kỳ vết cắt, hoặc vết rách chấn thương nào trên người đối thủ.
- Các kĩ thuật mở lòng bàn tay, ngón tay vào phần đầu, cổ.
- Cắn hoặc nhổ nước bọt vào đối thủ.
- Sử dụng ngôn ngữ thô tục, lăng mạ trong khu vực thi đấu.
- Có hành vi không tôn trọng TT và đối thủ
- Tấn công đối thủ sau khi tiếng chuông đã kết thúc thời gian thi đấu (nếu cố ý tấn công sau khi trọng tài đã ngăn cản)
- Tấn công đối thủ khi chưa có hiệu lệnh thi đấu của trọng tài.
- Gây nhiễu loạn từ đội ngũ săn sóc viên, huấn luyện viên.
- Tự gây chấn thương cho bản thân trong các kỹ thuật có khả năng gây nguy hiểm lớn hoặc cố gắng để thoát khỏi tư thế tấn công nhưng lại gây tổn hại cho bản thân (Mubobi).
- Các đòn tấn công có xu hướng đưa cả trọng lượng cơ thể lên cơ thể đối phương khi đang trong trạng thái đứng ngang nhau (dạng như Tobi Juji Gatame, Tobi Do Jime,…)
- Các kỹ thuật siết, bóp tác động trực tiếp lên vùng đầu, mặt, xương sống.
Loại 2:
- Sử dụng các chất kích thích như rượu, bia, đồ uống có cồn, ma tuý, cần sa, cỏ mỹ, dopping, các chất có chức năng tăng cường khả năng vận động, mất hành vi dân sự… trước và trong trận đấu.
- Hành vi tấn công, hành hung trọng tài một cách cố ý.
Các nhắc nhở và hình phạt
Nếu một vận động viên phạm lỗi trong danh sách cấm, trọng tài sẽ nhắc nhở
- Nhắc nhở VĐV thì TTC sẽ giơ một/hai/ba ngón tay vào VĐV phạm lỗi và hô (AKA/AO CHUI!).
- Lần thứ 4 sẽ là HANSOKU, phần thắng được trao cho VĐV còn lại.
HANSOKU (truất quyền thi đấu) được đưa ra trong các trường hợp sau đây
- Phạm lỗi đến mức cảnh cáo sau khi nhận 3 CHUI, lúc này bên còn lại sẽ được TTC tuyên bố thắng cuộc.
- KIKEN (Bỏ cuộc và truất quyền thi đấu)
- VĐV vắng mặt sau khi đến lượt đấu nhưng chưa xuất hiện sau 1 phút. (Nếu đến trong khoảng từ giây thứ 10 đến trước giây thứ 29 sẽ vào trận với mức cảnh cáo CHUI lần 1, từ giây thứ 30 – trước giây thứ 59 sẽ vào trận với mức cảnh cáo CHUI lần 2).
- SHIKKAKU (truất quyền thi đấu khỏi giải) được đưa ra sau khi thống nhất ý kiến giữa TTC, KANSA. Sau đó sẽ được thông báo công khai.
Có 5 mức nhắc nhở và phạt (3 lần CHUI, 1 HANSOKU, 1 SHIKKAKU)
Những hành vi sau đây sẽ trực tiếp nâng lên thành HANSOKU nếu trước đó đã nhận CHUI lần 2 vì bất kể lí do gì
- Phạm lỗi lần thứ ba, cùng một hành vi vi phạm với hai lỗi trước đó.
Xử lý theo lỗi:
- Loại 1: Cảnh cáo tối đa 3 lần. Tuỳ vào tính chất lỗi, có thể bị nâng thẳng lên 2, 3 mức cảnh cáo hoặc HANSOKU nếu trước đó đã có các lần cảnh cáo ở mức thấp, mức độ nâng được trọng tài công bố dựa vào nhận định cá nhân hoặc hội ý với hội đồng trọng tài (nếu cần thiết).
- Loại 2: Trực tiếp nâng lên HANSOKU hoặc SHIKKAKU (nếu cần thiết).
Thời gian
Thời gian của trận đấu Jukumi được quy định như sau:
- Nam trên 18 (cả đồng đội và cá nhân): 5 phút (mười phút)
- Nữ trên 18 (cả đồng đội và cá nhân): 4 phút (bốn phút)
- Nam 16-18 (cả đồng đội và cá nhân): 4,5 phút (bốn phút rưỡi)
- Nữ 16-18 (cả đồng đội và cá nhân): 3,5 phút (ba phút rưỡi)
- Nam 13-14-15 (cả đồng đội và cá nhân): 4 phút (ba phút rưỡi)
- Nữ 13-14-15 (cả đồng đội và cá nhân): 3 phút (hai phút rưỡi)
- Nam 10-11-12 (cả đồng đội và cá nhân): 3 phút (ba phút)
- Nữ 10-11-12 (cả đồng đội và cá nhân): 2 phút (hai phút)
- Thời gian VĐV được nghỉ ngơi giữa các trận đấu bằng thời gian tiêu chuẩn của một trận đấu. Ngoại trừ trường hợp phải thay đổi màu trang thiết bị (đai,…) thì thời gian được kéo dài đến 5,5 phút
- Thời gian TTC dừng để nhắc nhở sẽ không tính vào thời gian của trận đấu.